Friday, October 21, 2011

Thượng hải – Trung Quốc đẩy mạnh phát triển dịch vụ BPO.

Ngày 18 tháng 10 năm 2011, Theo một thông báo chính thức từ ủy ban thương mại Thượng Hải, thành phố đang lập kế hoạch để nâng cao ngành dịch vụ thuê ngoài chở thành một ngành kinh tế xương sống của kinh tế thành phố. Sự kiện này diễn ra ngay trước khi khai mạc hội nghị toàn cầu về IT OutSourcing.

Theo ngài Sun Jiarong, quản lý phòng thương mại của ủy ban, Thượng hải có một lực lượng đông đảo các chuyên gia có thể đáp ứng sự phát triển của ngành dịch vụ thuê ngoài . Lợi thế cạnh tranh của Thượng Hải là có một lực lượng rất đông đảo các chuyên gia làm việc tại đây. Một nhân tố khác là có nhiều công ty toàn cầu đã đặt trụ sở chính tại đây.

Ngành công nghiệp thuê ngoài đã phát triển thành một ngành công nghiệp trị giá hàng nghìn tỷ đô la qua nhiều năm. Thuê ngoài là quá trình thuê bên ngoài làm các công việc mà trước kia được thực hiện phía trong công ty. Lý do để các công ty thực hiện việc thuê bên ngoài là sự tiết kiệm chi phí. Một lý do khác là dịch vụ thuê ngoài sẽ giúp cho công ty tập trung vào mảng kinh doanh chính, đem lại lợi nhuận cho họ.

Theo bộ thương mại Trung Quốc, giá trị của ngành dịch vụ thuê ngoài tại Trung Quốc là 1.9 tỷ đô la trong 8 tháng đầu năm 2011, tăng trưởng 17% so với năm trước. Theo thống kê từ bộ thương mại, hiện có khoảng 1800 công ty làm dịch vụ thuê ngoài tại Trung Quốc và lượng nhân lực làm trong ngành này là 330000 người.

Tổng giá trị ngành dịch vụ thuê ngoài tạo ra trong năm 2007 la 2.09 tỷ đô, tăng 118% so với năm 2005. Năm 2010 chính phủ định hướng một số sẽ chở thành trung tâm thực hiện dịch vụ thuê ngoài như : Shanghai, Dailan, Xian va Chengdu. Năm ngoái, ngành phần mềm chiếm 67.9% trong toàn bộ giá trị của ngành dịch vụ thuê ngoài tại Thượng Hải. Những ngành khác đang có cơ hội rất lớn để phát triển là BPO (dịch vụ thuê ngoài quy trình sản xuất) và KPO (Dịch vụ thuê ngoài chất xám).

Thursday, October 20, 2011

Bộ trưởng Philipin công bố chương trình đạo tạo BPO miễn phí

Ngày 14  tháng 10 năm 2011, Bộ trưởng thương mại Philipin Gregory Domingo thông báo sẽ cung cấp việc đào tạo miễn phí cho ngành công nghiệp BPO (thuê ngoài gia công quy trình sản xuất). Theo phòng khoa học và công nghệ, trong bước khởi đầu, chương trình đào tạo sẽ cung cấp các ứng dụng đào tạo qua hình thức trực tuyến hoặc CD. Ý nghĩa cơ bản của chương trình đào tạo nhằm nâng cao trình độ của đội ngũ những người làm BPO và cung cấp cho họ thêm nhiều công cụ để có thể làm tốt ngành công nghiệp này. Bộ trưởng Domingo cũng nói rằng có một khoảng cách khổng lồ giữa nhu cầu và sự cung ứng của xã hội trong ngành này. Ngành công nghiệp BPO của Philipin đang đứng trước một cơ hội to lớn để phát triển nhưng cản trở lớn nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao. Chương trình đào tạo sẽ không chỉ nâng cao năng lực lao động mà còn giúp cho ngành BPO theo kịp được đòi hỏi của thế giới. Trong bài phát biểu của mình, bộ trưởng cũng nhấn mạnh nhu cầu nhân lực cho ngành này là từ 80000 cho đến 100000 người mỗi năm.

Chương trình đào tạo được phát triển bởi phòng khoa học và công nghệ gồm 2 phần.. Những người tham gia đào tạo sẽ được đánh giá, phân tích, qua đó cơ quan đào tạo sẽ biết phải bổ sung thêm phần việc nào.

Một điều đáng ngạc nhiên là một cuộc điều tra gần đây cùa hiệp hội doanh nghiệp Philipin cho thấy ngành công nghiệp BPO sẽ đưa về một khoản thu nhập là 20 tỉ đô la vào cuối năm 2016 với lực lượng lao động là 900000 người. Ngành công nghiệp này đang phát triển rất nhanh tại Philipin.

Kiến thức cơ bản - Lịch sử ngành dịch vụ thuê ngoài tại ẤN ĐỘ


Ai có thể tin rằng xuất phát từ những công việc đơn giản như nhận và trả lời điện thoại có thể mở rộng thành một ngành công nghiệp trị giá hơn 5 tỷ đô la. Câu trả lời trên thực tế là BPO. Ngày nay tại ẤN ĐỘ có hàng triệu người tham gia vào ngành công nghiệp dịch vụ thuê ngoài. Ngành công nghiệp BPO của ấn độ cung cấp dịch vụ cho 400 công ty, các dịch vụ có thể từ đơn giản nhất trong chuỗi giá trị như trả lời những câu hỏi từ khách hàng, nhập dữ liệu, cho đến những công việc mang tính chất phức tạp hơn như phân tích dữ liệu, xử lý các nghiệp vụ bảo hiểm. Khách hàng của những dịch vụ này đến từ những ngành như : ngân hàng, tài chính, bảo hiểm, bán lẻ, xây dựng, viễn thông, dược và chăm sóc sức khỏe…Trong tương lai những dịch vụ đơn giản này tiến tới những công việc có giá trị cao hơn trong chuỗi giá trị như nghiên cứu và phát triển.

Vào năm 2005, trong tổng số 300 tỷ đô của ngành dịch vụ thuê ngoài, ấn độ đóng góp 5.2 tỷ đô la. 60% của ngành công nghiệp này là những công việc liên quan đến dịch vụ trả lời điện thoại khách hàng. Qua nhiều năm, Dịch vụ thuê ngoài tại  ẤN ĐỘ đã trở thành dẫn đầu thế giới trong ngành này.

Tại ấn độ, những công ty hàng đầu trong dịch vụ BPO như ICICI One Sorce, 24/7 Customer, WNS Global Services, GE đã mở rộng rất nhanh, họ đã bắt tay với những ông lớn như IBM Global Services, ADP và Convergys.

60% doanh thu của BPO là từ dịch vụ chăm sóc khách hàng, và ngành tài chính là ngành dẫn đầu mang lại giá trị cho ngành công nghiệp BPO. Cho đến cuối năm 2001, ẤN ĐỘ mới bắt đầu gia nhập vào ngành công nghiệp BPO, những công ty như Spectramind, Daksh, Customer Asset, 24/7 Customer đã thiết kế mô hình phục vụ của họ thông qua dịch vụ chăm sóc khách hàng bằng email. Họ đã đầu tư vào những cơ hội liên quan đến internet và thương mại điện tử. Dịch vụ này đã bị sụt giảm nghiêm trọng sau bong bóng dot com, sau đó ngành dịch vụ chăm sóc khách hàng qua điện thoại ra đời. Sau vụ 11/9, các doanh nghiệp mỹ thấy cần phải giảm giá thành sản xuất, từ đó họ càng thiết lập nhiều những trung tâm chăm sóc khách hàng và dịch vụ marketing từ xa thông qua điện thoại.

Chăm sóc khách hàng qua điện thoại phát triển nhanh chóng và cung cấp dịch vụ cho cả những ngành như hàng không, khách sạn, dịch vụ bán lẻ tài chính. Sự bùng nổ của ngành chăm sóc khách hàng qua điện thoại tạo ra những người khổng lồ trong dịch vụ này như Convergys.

Có thể thống kê dịch vụ BPO với 6 hình thức chính sau đây:
  1. Chăm sóc khách hàng
  2. Tài chính
  3. Dịch vụ trả tiền
  4. Hành chính
  5. Nhân lực
  6. Phát triển nội dung

Trong số những hình thức này thì chăm sóc khách hàng chiếm đến 40% tổng thu nhập. Các ngành thực hiện việc thuê ngoài chăm sóc khách hàng là dịch vụ tài chính, bảo hiểm, hàng không, bán lẻ, xây dựng, viễn thông, các loại tiện ích, dược và chăm sóc sức khỏe. Trong toàn bộ mảng chăm sóc khách hàng thì dịch vụ bằng điện thoại chiếm hơn 60%.

Ngành thực hiện thuê ngoài sớm nhất tại ẤN ĐỘ là ngành hàng không, hãng hàng không anh quốc British Airways đã thành lập một nhóm gồm 30 người tại MUMBAI cho dịch vụ sử lý vé và họ đã gọi đó là dịch vụ từ xa. Vào năm 1997, GE đã thiết lập trung tâm chăm sóc khách hàng tại Gurgaon. American Express cũng đã thiết lập trung tâm tương tự vào những năm 2000.

Dịch vụ chăm sóc khách hàng trong lĩnh vực tài chính bao gồm những việc như: nhập liệu, thanh toán, kế toán, nghiên cứu đầu tư, tìm kiếm dữ liệu tài chính, sử lý bảo hiểm, tính toán bảo hiểm. Gía cả cho những dịch vụ này là từ 5 cho đến 30 đô la một giờ.

Chuyển giao quy trình
Những khách hàng thuê ngoài quá trình sản xuất mong muốn có được chất lượng dịch vụ tốt với giả cả phải chăng. Điều cốt yếu là sự suôn sẻ trong quá trình chiển khai. Qúa trình chuyển giao quy trình và quản trị dự án từ phía khách hàng cũng như từ bản thân công ty là điều rất quan trọng. Thời gian của  qúa trình chuyển giao biến đổi phụ thuộc vào việc chuyển giao cái gì.

Việc chuyển giao quy trình sẽ phải đối mặt với những vấn đề như: tuyển dụng, đào tạo, trang thiết bị làm việc, kỹ thuật, và điều hành. Có 3 bước để có thể chuyển giao thành công là: lập kế hoạch, thực hiện, và ổn định quy trình.

Lập kế hoạch: để bắt đầu với thiết lập các mục tiêu của Project, những người quản trị cần đưa ra các thông số để đo lường, nghiên cứu quy trình thực hiện, các ví dụ thành công. Thiết kế quá trình triển khai và đánh giá khoản đầu tư.

Thực hiện: rà xoát lại các thông số, kết thúc việc lập kế hoạch, quản trị hiệu suất của đội. Thiết lập cơ sở vật chất, tuyển dụng nhân viên. Thực hiện thử và đánh giá. Khi việc thực hiện dự án thử nghiệm đã thành công và được khách hàng chấp nhận, quá trình chiển khai sẽ được thực hiện trên diện rộng và đi vào ổn định.

Ổn định: Quản trị chất lượng của dự án thử nghiệm thông qua các thông số, phát hiện những lỗi sai và điều chỉnh. Thực hiện các biện pháp để giảm lỗi sai và chia sẻ những ví dụ điển hình nhằm không ngừng nâng cao chất lượng dịch vụ.